Truyện ngắn: Miu ơi

Truyện ngắn: Miu ơi, con ở đâu?
(18/12/2016, kỷ niệm về Sa Pa – sẽ in trong tập truyện Bức họa người tình phố núi sẽ ra tới đây)
Gần hai chục năm rồi tôi cứ day dứt để hôm nay quay lại vùng Sa Pa tìm anh cu. Trong sâu thẳm, một lúc nào đó, tôi coi cu cậu như đứa con trai của mình. Nay đi tìm mà không biết cả tên nó, chỉ còn nhớ cái tên do chính mình đặt ra, Miu con – chú mèo nhỏ. Cả bản Mông quê hương nó, tôi cũng không nhớ địa danh nữa. Đâu phải bản du lịch ngày nay : Cát Cát, Sa Pả,… gần thị trấn Sa Pa. Ngày đó tôi theo anh cu về bản của nó, đi bộ tám, chín cây số, leo ngược mây núi, gió ngàn, ngó đầu nhìn lại phố núi Sa Pa, thấy mấy căn nhà bé xíu như những chiếc bát úp.
Tôi mò mẫm đến nhiều bản Mông quanh vùng, ngó nghiêng, săm soi… lại không phải. Ở bản Mông kia, buột miệng hỏi người đàn bà nọ:
– Có biết anh cu Miu?
– Khôn…
Chị ta lắc lắc đầu, trả lời bằng thứ tiếng Kinh giọng đơ đớ.
***
Đó là năm 1996, tôi có chuyến công tác lên Sa Pa. Làm báo, những chuyến đi đây đó là thường tình. Giao thông thuở ấy khó khăn, từ ga Hàng Cỏ theo tàu hỏa mất gần ngày trời mới lên tới thị xã Lào Cai, tiếp đấy tăng bo xe khách. Sau mấy chục năm chiến tranh, lại bước vào cuộc cấm vận dài dài, Sa Pa còn đang tất tả lo cái ăn, cái mặc. Thị trấn vùng thượng du mộc mạc, hoang hoải và ngơ ngác buồn, bị lãng quên giữa miền rừng sâu núi đỏ Hoàng Liên Sơn.
Phố núi, sương mù chợt ào ạt, xùa xộc vào phòng, lạnh đến tê tái. Trừ tòa Nhà Thờ Đá sừng sững, rêu phong ; nhưng căn nhà ngói một tầng thấp bé, xếp dựa vào nhau, chạy ngoằn nghèo. Thi thoảng mới bắt gặp dăm ba du khách Tây mắt xanh mũi lõ, ngơ ngẩn ngó nhìn dân bản địa.
Tối mịt tôi mới tới bến xe. Hỏi thăm và rò rẫm vào Ban Định canh định cư huyện. May quá, nhận được điện thoại liên hệ trước, họ bố trí ông cán bộ chờ chực và sắp xếp cho tôi chỗ ngủ. Chiếc giường công vụ, giát gần gẫy tiệt, may còn có tấm chiếu cuộn cuối giường. Phòng tối om. Tưởng tối đó ngủ chay trong tối thui, thì ông cán bộ quay lại, chiếu đèn pin rọi rọi, mò mẫm mắc mắc chập chập đầu dây điện. Chiếc bóng đèn bật lên thứ ánh sáng vàng vọt, lập lòe như ma trơi.
– Chín giờ cắt điện.
Ông ta thông báo, giọng khô khốc, nói rồi bỏ đi, để trơ khấc khách lại một mình. Tôi biết bữa tối nhịn khan rồi. May lúc trên tàu túc tắc làm đôi cái bánh chưng của dân bán dạo. Mệt mỏi sau một ngày tàu xe, ngả lưng, cũng may có tấm chăn mỏng chuẩn bị trước, không thì đêm đó chết rét. Giấc ngủ ập đến lúc nào không hay. Khi ánh nắng sớm xuyên qua cửa, chiếu vào chói mắt, tôi tỉnh giấc.
Ngó nhìn qua khung cửa. Chao, Sa Pa mê mẩn đẹp! Sa mu sừng sững. Những thân gỗ thẳng tắp, tầng lá xanh đậm mờ ảo trong sương mù sớm. Tôi hít căng lồng ngực, hương thơm tinh khiết xứ sở núi rừng. Tít tắp xa, núi đứng núi ngồi nhấp nhổm. Vắt vẻo lưng núi, những căn nhà bồng bềnh trong mây. Mái nhà vùng này nom lạ mắt, những phiến dài xám, không ra ngói, chẳng ra gianh. Sau mới hay, đó là mái gỗ pơ mu. Thấy bảo bền chắc đến mấy mươi năm.
Thuở ấy cơ quan miền núi chưa có thói quen tiếp bữa sáng, trưa và tối cũng vậy, khách cứ tự do. Gần ngay nơi tôi nghỉ là chợ Sa Pa, dùng bữa ở đó quá tiện. Chợ miền núi vui mắt thật. Phụ nữ người Mông, Dao, … trang phục sặc sỡ, xúng xính váy áo kéo xuống núi, đi chợ mà như đi hội. Kẻ cắp nách con gà, hay đeo chú ủn, con to quá, thì dòng dây quanh cổ, kéo, dắt. Rất lạ mắt thấy một thanh niên người Mông gùi trên lưng chiếc chảo gang to đùng và buồn cười nhìn đũng quần anh chàng, thề lề buông, như đũng quần chân què của mấy bà già quê ngày trước.
Chợ quán xá tềnh toàng, bù lại sản vật đủ thứ, củ quả, cấy lá, dao cuốc và trạt ra những người là người. Tôi làm một vòng quanh chợ, rồi sà vào chỗ hàng ăn. Bánh rán, phở – thứ bánh phở nhũn, nát mềm, khác xa bánh phở Thủ đô và thịt lợn thế cho thịt bò. Món ẩm thực nữa là thắng cố. Những chảo gang to đùng đặt trên mấy tảng đá, lửa bếp cháy đùng đùng, khỏi bốc tỏa nghi ngút, nhìn đã thấy ấm áp. Trong chảo lều bều những thịt, da, lòng, phổi,… trôi nổi, sục sôi, đảo lộn. Nghe bảo, dạ dày, lòng non, lòng già, chỉ gạt gạt lớp phân non, phân già, tráng qua tí nước, thái phay, rồi thả ngay vào chảo. Tô thắng cố nước lõng bõng, lổn nhổn thịt gan lòng phèo, ngửi dậy mùi thum thủm, ấy mới là thắng cố xịn.
Đàn ông, đàn bà người Mông xúm xít quanh bàn, mỗi người một tô tướng thắng cố và không thể thiếu khoản rượu, thứ rượu ngô men lá mùi nồng nồng ngai ngái. Thôi cho lành! Tôi chọn anh hàng phở: bánh phở, nước dùng và thịt lợn. Đón bát phở từ tay người bán hàng, gắp múc được vài miếng, vô tình ngẩng lên, tôi bắt gặp ánh mắt một thằng bé chăm chắm ngó nhìn tôi ăn, ngó một cách thèm thuồng, như chính nó đang được xơi phở. Tôi nghĩ bụng, chắc thằng cu đói. Thương tình, giơ tay vẫy vẫy nó lại, tôi gọi thêm bát phở nữa. Nó lưỡng lự bước, khi đến gần, thì đực mặt ra. Ấn vai nó ngồi xuống ghế, tôi thấy ánh mắt anh cu chằm chằm nhìn bát phở, nuốt nước bọt đánh ực một cái.
Thằng bé cầm đũa, nhìn lại tôi lần nữa, rồi lao vào cuộc ăn uống, ngấu nghiến, vội vàng, ăn như chưa bao giờ được ăn, ăn như sợ hãi ai đó tranh cướp và như sợ cả tôi, đòi lại bát phở vừa cho nó. Đói quá. Tôi gọi thêm mấy cái bánh rán, đặt lên mặt bàn và ra hiệu cho nó đó. Thằng bé vội vàng giơ tay ra giữ phần, tay kia vẫn tiếp tục đôi đũa khều bánh phở, thoăn thoắt đưa và vào miệng. Những sợi phở từ miệng thằng bé lòng thòng vắt xuống, rơi vãi lên cả mặt bàn, nó vội dùng tay nhặt lên và đút tọt vào miệng.
Nhìn thằng bé ăn uống, mà thương quá, cứ nhồm nhoàm nhai nuốt, đôi khi cổ rướn rướn lên, nuốt nuốt. Tôi ra hiệu, hãy bỏ tay ra, không phải lo giữ bánh rán. Chờ thằng bé ăn uống xong, thanh toán tiền, chúng tôi chia tay mà chửa kịp nói với nhau câu nào. Tôi còn có việc vào sáng đó.
***
Chuyến công tác diễn ra bình thường, lấy số liệu chung ở huyện, rồi xuống cơ sở và ở lại Sa Pa dăm hôm, tôi cũng quên đi thằng bé, bận rộn với công việc. Sáng hôm sau, lững thững ra chợ và vẫn chọn hàng ăn hôm trước, vừa ngồi xuống ghế, gọi xong bát phở, ngó lên, tôi lại bắt gặp ánh mắt của thằng cu. Hình như nó đứng chờ trực sẵn tôi ấy.
Cho đến tận lúc đó, tôi mới có dịp quan sát kỹ lưỡng thằng bé. Anh cu độ hơn chục tuổi, da trắng đỏ, thứ da dẻ của dân vùng cao lạnh mát, cặp mắt một mí đặc trưng dòng giống Mông, ngời sáng thông minh và khuôn mặt tròn xoe xoe. Tôi áo đơn áo kép, còn nó phong phanh tấm áo mỏng cũ sờn. Thời tiết nơi đây giá lạnh, cứ chợt chợt sương mù òa xuống, lạnh tê tái.
Thằng cu đáp lại ánh mắt của tôi, người đã cho nó bữa sáng hôm trước. Vẫy vẫy tay, tôi gọi. Giờ thì cu cậu mạnh bạo, tự tin, chả còn ngập ngừng như hôm trước. Hấp tấp nó chạy lại, chắc mừng vui, biết sắp được bữa no nê. Tôi gọi thêm bát phở và dăm cái bánh rán. Hôm nay vẻ anh cu tự tin, không vội vã ăn như bữa trước, vì không còn sợ người ta đòi, hay giằng cướp lại và tay cũng không giơ ra để giữ phần đám bánh rán. Nó ngon lành gắp múc. Chờ thằng bé ăn uống xong xuôi, tôi thủng thẳng hỏi chuyện:
– Phở ngon không?
– Ngon!
Thứ tiếng Kinh phát âm chưa sõi, nghe đơn đớt.
– Đói hả?
– Đoi lăm!
Qua câu chuyện, tôi biết nó là học sinh trường dân tộc nội trú. Thằng bé kể, ở trường ngày ăn hai bữa, cơm mỗi bữa hai bát. Nó giơ tay làm dấu, vì còn thiếu ngôn từ tiếng Kinh. Và tôi bật cười nghe nó xưng hô đại từ mày tao với tôi. Anh cu ngây thơ, non nớt quá. Thế là sáng hôm sau nữa tôi lại ăn phở, lại ăn cùng thằng bé. Ăn uống xong, bảo cu cậu, nó dắt tôi về thăm bản nó. Trước đó tôi kịp cởi chiếc áo khoác choàng lên người nó và ra hiệu, tặng nó đó. Anh cu sướng rơn, xúng xính trong tấm áo mới, dài lũng thũng chấm gót, nom đến buồn cười, y như người mặc áo tế.
***
Quãng đường về bản đi bộ hơn hai tiếng đồng hồ. Đường đất đồi núi quanh co, dốc ngược. Phóng tầm mắt xa xa, núi đồi sừng sững, ngó xuống, vực sâu thăm thẳm, sâu đến rợn người. Tôi đi bộ không quen, thi thoảng dừng chân và anh cu ngó lại đợi. Nó có vẻ sốt ruột. Chắc mong nhanh chóng để được khoe với khách về ngôi bản Mông xinh đẹp và gia đình thân thương của nó.
Qua một bãi cỏ rộng, tôi thấy mấy người thổi khèn, đánh trống, cạnh đó dân bản xúm xít mổ trâu, gần ngày đó, trên tấm ván có xác người. Đó là lễ mổ trâu cho người khuất. Thấy bảo đám ma tổ chức nhiều ngày, người mất rồi, hàng ngày con cháu vẫn bón cơm cho ma ăn.
– Kìa…
Nó chỉ về phía ấy. Thế là tới bản Mông của cu cậu rồi, một bản người Mông Đen nghèo khó. Cu cậu nhìn tôi phấn khởi, không đủ từ ngữ tiếng Kinh biểu đạt thái độ mừng vui của mình. Tôi men theo lớp đá xếp thành tường bao quanh khu nhà. Ngôi nhà thấp tè, ba gian, đắp đất, duy nhất có khuôn cửa hẹp vào ra, hai bên là ô cửa sổ bé tí tẹo. Trước nhà, đập vào mắt là đống phân trâu bò to khủng khiếp. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy đống phân cao to thế, ngang đống rơm rạ dưới xuôi và nằm kề ngay trước nhà, cao lênh khênh. Một con lợn nái xương sống xương sườn khoe ra, đủng đỉnh dạo bước trong vườn, theo sau là lũ lợn con long tong chạy theo mẹ.
Tôi theo anh cu vào nhà. Trong nhà tối om, nền đất gồ ghề. Nhìn thấy tôi, mấy đứa trẻ đang chơi vội đứng túm tụm lại, ngó nhìn khách. Lũ trẻ xêm xêm nhau, trứng gà trứng vịt, mấy đứa gái váy mông xúng xính, một thằng cu cỡ ba, bốn tuổi, trời lạnh giá mà trần như nhộng. Khi đã quen mắt, tôi có dịp quan sát. Nhà trống trải, gần như không có lấy thứ của nả gì đáng giá. Những bắp ngô treo lủng lẳng trên gác bếp, mấy con dao quắm và dãy nia, sàng dựng men tường, chỏng chơ giữa nhà là cái cối đá xay ngô làm mèn mén.
Của cải quý giá nhất có lẽ là khẩu súng kíp, chiếc nỏ và cây khèn Mông treo lửng lơ trên tường, tiếp đó là dãy váy áo vắt trên dây. Nhìn xuyên qua mái gianh mủn mục, lỗ chỗ thấy cả bầu trời. Phía bên trái căn nhà, giáp ngay bếp lò đang lạnh lửa là chiếc giường. Gọi là giường cho oai, giát tre đập dập, lù lù đống ruột chăn rách như xơ mướp.
Vì bỏ qua góc nhà tối, tôi chợt nghe tiếng húng hắng ho, mới hay có người đang nằm ở đó. Ngó kỹ ra, trong cảnh tranh tối tranh sáng, trên giường nhô ra cái đầu người trọc lốc, một ông già nằm co quắp, gầy tong teo, người chả đắp điếm, phủ đậy, phơi ra hết. Chắc là ông nội thằng bé, ốm đau nằm đó. Thảo nào, khi bước chân vào nhà tôi thấy không khí, không gian ẩm mộc, nặng thứ khăn khẳn. Mệt yếu quá, ông già chả thiết ngóc đầu, đánh tiếng chào khách.
Ngay từ khi tôi đến, chu miu nhỏ cứ quẩn quanh dưới chân, rồi tót lên lòng tôi, nằm từ lúc nào không hay. Nó rụi rụi đầu vào người tôi. Cũng vì con miu này, gợi ý cho tôi cái tên của anh cu Miu. Đến được một lát, bố mẹ anh cu xuất hiện. Chắc họ đi nương về. Vợ chồng ăn mặc xơ xác, xác xơ như nhau, đều gày guộc, tiều tụy, ngơ ngác. Lưng người mẹ địu theo đứa trẻ, nó ngủ ngặt nghẽo. Ông chồng vai vác cây chuối rừng, vắt vẻo bên hông con dao quắm và túm măng. Họ lừ đừ nhìn tôi và chẳng nói câu nào. Thằng cu nói gì đó với họ, rồi nó bảo tôi, bố mẹ nó bảo tôi tí nữa ăn cơm, lúc ấy quãng quá một giờ trưa.
Ở lại dùng cơm với họ, tôi không dám nhìn cô con dâu vực ông bố chồng dậy. Ông già ốm thập tử nhất sinh, được cô con dâu vực ngồi dậy và tra vào mồm những thìa mèn mén. Sau mỗi thìa ngô, cô con dâu lại xúc thìa nước, tra vào miệng bố chồng. Tôi ngồi xổm trên nền nhà đất gồ ghề, khấp khểnh, cả ông bố, thằng cu và đám trẻ xúm xít quanh đó. Bữa ăn có nồi cơm nguội, chõ mèn mén, xoong măng tre lạnh tanh ngắt, bát muối dầm ớt xanh và duy nhất món đồ nóng là tô canh đậu chúa, nghe thằng bé phát âm là xáo lẩu.
Lũ trẻ xúc cơm vào bát xong, kéo nhau ra dội nước lã vào bát. Chúng ăn cơm chan với canh nước lã. Trong lúc ăn, con chó già giơ xương, mông rụng lông, ngó nhìn người ăn một cách thèm thuồng. Sao lúc đó tôi lại thấy ánh mắt nó giống ánh mắt anh cu Miu ngó nhìn tôi lúc ăn phở ở chợ Sa Pa đến thế. Có lẽ trong đời, tôi không quên được bữa ăn đạm bạc đến vậy, không thể đạm bạc hơn.
***
Về Hà Nội rồi, chúng tôi thư từ qua lại với nhau. Chữ vẹo vọ, câu cú, từ ngữ và chính tả của cậu học trò cấp một miền núi còn nhiều lỗi lắm. Mấy tháng sau đó lòng tôi phân vân. Có bận hỏi, vợ lưỡng lự đáp:
– Tùy anh đấy!
Nhà tôi chật hẹp, căn nhà cấp bốn ọp ẹp hơn chục mét vuông, bốn nhân khẩu, mẹ già, con gái đầu lòng chưa đầy hai tuổi. Quên sao được cảnh đêm tân hôn. Nhà áp bên đống rác tướng của khu tập thể, đã hôi thối lại còn đầy chuột bọ. Ngày cưới sửa sang nhà qua loa, sao cứ thấy mùi khăn khẳn. Vô tình ngước nhìn trần gác xép. Kìa, sao có vệt thẫm ướt. Hóa ra có con chuột chết to đùng. Dọn vội, rồi phun đẫm nước hoa để xua đuổi mùi khăn khẳn chuột chết. Không rõ đêm tân hôn, cô dâu có ngửi thấy thứ mùi ấy không, hay ngửi thấy mà không dám nói.
Nghĩ lại thấy thương vợ, số khổ, nên lấy phải anh chồng nghèo. Cảnh nhà thế, nay “đèo bòng” và còn bao thứ khó khăn, thủ tục rầy rà khác của Hà Nội một thuở, tôi thở dài và quyết. Những lá thư của thằng bé từng gửi cho, tôi buồn rầu đem ra đốt. Ngọn lửa cháy đùng đùng, gió cuốn tàn tro bay phấp phới khắp ngõ. Thôi thì… đành vậy thôi, chôn lấp, xua đi một kỷ niệm đẹp và đẫm buồn.
Năm nay chắc thằng bé tuổi ngoài ba mươi rồi, gần bằng tuổi tôi ngày đó, vợ con đề huề? Tôi có tìm được thằng bé chăng, cá bể chim trời. Người ta bảo, nếu có duyên có phận, thì vẫn tìm ra nhau đó.
Nhớ mãi cảnh chúng tôi chia tay ngày đó. Anh cu đến rất sớm. Mở cửa phòng, đã thấy nó chầu chực ngoài cửa. Anh cu xúm vào xách đồ lề cho tôi. Chúng tôi lững thững ra bến. Nó có vẻ buồn, chắc biết sắp phải chia tay nhau rồi. Tôi biết nó buồn đâu phải không còn được ăn phở và những chiếc bánh rán nữa. Buột miệng tôi hỏi:
– Cu Miu con có thích Thủ đô không?
– Có!
– Sao biết Thủ đô?
– Thấy trong ti vi. Đẹp lắm!
Sao tôi nỡ gieo vào lòng đứa trẻ non nớt điều ấy nhỉ, gieo vào nó một chút hi vọng hão huyền? Hình như chúng tôi đều chùng chình, muốn níu kéo thêm thời gian bên nhau. Cả hai im lặng, chẳng nói câu nào với nhau. Ra đến bến, xe chuẩn bị chuyển bánh. Lên xe, ngoái đầu nhìn lại, tôi thấy đôi mắt anh cu Miu đỏ hoe hoe. Chạy theo xe, tay nó vẫy vẫy, gào gọi:
– Bố, b…ố!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *